Pablo Picasso, danh họa người Tây Ban Nha, đứng đầu top 200 nghệ sĩ tạo
hình lớn nhất thế giới thế kỷ 20 do tạp chí The Times, Anh, công bố.
Cuộc bình chọn thu hút sự tham gia của 1,4 triệu người.
-
1. Pablo Picasso (1881 - 1973): 21.587 phiếu

Pablo Picasso
Sinh ra tại Tây Ban Nha nhưng Picasso gắn bó nhiều hơn với nước Pháp.
Cùng với Georges Braque, ông được coi là cha đẻ của trường phái Lập thể
trong hội họa và điêu khắc. Sau khi qua đời, Pablo Picasso để lại di sản
gần 50.000 tác phẩm nghệ thuật thuộc nhiều thể loại như tranh, điêu
khắc, đồ gốm, ký phác thảo...

Tác phẩm "Les Demoiselles d'Avignon" (Những cô nàng ở Avignon)
2. Paul Cezanne (1939 - 1906): 21.098 phiếu

Chân dung tự họa của Paul Cezanne
Thiên tài người Pháp, thuộc trường phái Hậu ấn tượng. Ông được coi là
người nối nhịp cầu giữa Hội họa Ấn tượng thế kỷ 19 với Hội họa lập thể
thế kỷ 20. Chỉ sống 6 năm trong thế kỷ 20 nhưng sức ảnh hưởng to lớn của
Cezanne đã đảm bảo cho tên ông luôn xuất hiện trong danh sách những cây
cọ vĩ đại nhất thế kỷ này. Hai danh họa Pablo Picasso và Henri Matisse
đều thừa nhận, Cezanne chính là "bậc thầy" của họ trong nghệ thuật hội
họa.

Bức "The card Players" (Người chơi bạc) của Cezanne
3. Gustav Klimt (1862 - 1918): 20.823 phiếu

Họa sĩ Gustav Klimt
Họa sĩ người Áo, là cây cọ xuất chúng của trường phái Tượng trưng. Ông
vẽ nhiều về hình thể người phụ nữ, khai thác vẻ đẹp sexy quyến rũ của
họ, bất luận là trong những trang phục kín đáo hay trạng thái khỏa thân
nóng bỏng.

Tác phẩm "The Kiss" (Nụ hôn) của Klimt
4. Claude Monet (1840 - 1926): 20.684 phiếu

Claude Monet
Là người sáng lập, đại diện xuất sắc của trường phái Ấn tượng Pháp.
Chính khái niệm Ấn tượng được cho là có nguồn gốc từ tên bức tranh Ấn
tượng, mặt trời mọc của ông. Claude Monet nổi tiếng với tranh phong
cảnh. Những tác phẩm của ông mang đến cảm giác nhẹ nhàng, lãng mạn, nên
thơ và thư thái.

Bức "Impression, soleil levant" (Ấn tượng, mặt trời mọc)
5. Marcel Duchamp (1887 - 1968): 20.647

Marcel Duchamp
Họa sĩ người Mỹ gốc Pháp với những tác phẩm gần gũi với trường phái Da
da và Siêu thực. Ngoài tài năng hơn người, Duchamp còn được nhớ đến bởi
tính cách nghịch ngợm, phá phách với nghệ thuật của ông. Ông coi "Nghệ
thuật là trò chơi giữa mọi người và ở mọi thời đại". Ông chính là người
đã vẽ ria, thêm râu lên bức tranh Mona Lisa nổi tiếng của Leonardo da
Vinci, mở đầu cho làn sóng biến tấu tác phẩm Mona Lisa về sau.

Mona Lisa (trái) của Leonardo da Vinci và bức tranh nhại (phải) của Marcel Duchamp
thay đổi nội dung bởi: MAGICWOMAN, ngày 05-07-2009 lúc 06:58 AM

Trả Lời Với Trích Dẫn
-
05-07-2009 06:53 AM
#2
MAGICWOMAN
NGƯỜI ĐI TÌM MỘNG
- Tham gia ngày
- Aug 2005
- Vị trí
- Little SaiGon - California
- Bài gởi
- 12,253
- Số lần Cảm Ơn
- 15
- Được Cảm Ơn 25 lần trong 25 Bài Viết
6. Henri Matisse (1869 - 1954): 17.096 phiếu

Tự họa của Henri Matisse
Nghệ sĩ người Pháp, là người tiên phong của trường phái Dã thú. Ông được
đánh giá là bậc thầy trong nghệ thuật sử dụng màu sắc. Matisse và
Picasso là hai người bạn ngoài đời, đồng thời là những đối thủ cạnh
tranh khốc liệt trong nghệ thuật

Bức "Woman with a Hat" của Matisse
Nghệ sĩ người Pháp, là người tiên phong của trường phái Dã thú. Ông được
đánh giá là bậc thầy trong nghệ thuật sử dụng màu sắc. Matisse và
Picasso là hai người bạn ngoài đời, đồng thời là những đối thủ cạnh
tranh khốc liệt trong nghệ thuật.
7. Jackson Pollock (1912 - 1956): 17.051 phiếu

Bức "Moon-Woman Cuts the Circle"
(Người đàn bà - mặt trăng cắt vòng tuần hoàn) của Pollock
Là nghệ sĩ nổi bật của trường phái Biểu hiện trừu tượng. Pollock điển
hình cho kiểu nghệ sĩ lắm tài nhiều tật. Trong cuộc sống bình thường,
ông là người hung hăng, thích gây sự. Pollock còn mắc chứng nghiện rượu
nặng. Ông qua đời ở tuổi 44, trong một tai nạn vì lái xe trong lúc quá
chén.

8. Andy Warhol (1928 - 1987): 17.047 phiếu

Những bức vẽ Marilyn Monroe của Andy Warhol

Đệ nhất phu nhân Jacqueline Kennedy
Họa sĩ người Mỹ nổi tiếng với trường phái Nghệ thuật Đại chúng Pop Art.
Ông là tác giả những bức chân dung về các nhân vật nổi tiếng như Đệ nhất
phu nhân Jacqueline Kennedy, nữ diễn viên điện ảnh Marilyn Monroe, chủ
tịch Mao Trạch Đông... Ngoài vẽ tranh, ông còn làm phim, viết sách...

Andy Warhol
9. Willem De Kooning (1904 - 1997): 17.042 phiếu

Willem De Kooning
Họa sĩ người Hà Lan, đại diện của trường phái Biểu hiện trừu tượng. Ông
là người từng khiến dư luận kinh sợ với những tác phẩm vẽ người phụ nữ
xấu xí, ma quái.
10. Piet Mondrian (1872 - 1944): 17.028 phiếu

Tự họa của Piet Mondrian
Họa sĩ người Hà Lan, nổi tiếng với trường phái Tân tạo hình. Phong cách
của ông ảnh hưởng lớn đến cả kiến trúc, đồ họa, thiết kế công nghiệp...

Bố cục với màu đỏ, xanh, vàng của Piet Mondrian.
theo The Times
thay đổi nội dung bởi: MAGICWOMAN, ngày 22-01-2011 lúc 09:53 AM

Trả Lời Với Trích Dẫn
-
05-07-2009 07:27 AM
#3
MAGICWOMAN
NGƯỜI ĐI TÌM MỘNG
- Tham gia ngày
- Aug 2005
- Vị trí
- Little SaiGon - California
- Bài gởi
- 12,253
- Số lần Cảm Ơn
- 15
- Được Cảm Ơn 25 lần trong 25 Bài Viết
Pablo Picasso
Pablo Ruiz Picasso (sinh ngày 25 tháng
10 năm 1881, mất ngày 8 tháng 4 năm 1973), thường được biết tới với tên
Pablo Picasso hay Picasso là một họa sĩ và nhà điêu khắc người Tây Ban
Nha. Tên đầy đủ của ông là Pablo Diego José Francisco de Paula Juan
Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad Clito
Ruiz y Picasso. Picasso được coi là một trong những nghệ sĩ nổi bật
nhất của thế kỉ 20, ông cùng với Georges Braque là hai người sáng lập
trường phái lập thể trong hội họa và điêu khắc.Ông là một trong 10 họa
sĩ vĩ đại nhất trong top 200 nghệ sĩ tạo hình lớn nhất thế giới thế kỷ
20 do tạp chí The Times, Anh, công bố.

Pablo Picasso, tháng 1 năm 1962

Tiểu sử
Pablo Picasso sinh năm 1881 tại Málaga, miền nam Tây Ban Nha. Picasso là
con đầu lòng của ông José Ruiz y Blasco và bà María Picasso y López.
Ông được đặt tên thánh là Pablo, Diego, José, Francisco de Paula, Juan
Nepomuceno, Maria de los Remedios và Cipriano de la Santísima Trinidad .
Ngay từ khi còn nhỏ, Picasso đã bộc lộ sự say mê và năng khiếu trong
lĩnh vực hội họa, theo mẹ ông kể lại thì từ đầu tiên mà cậu bé Pablo nói
được chính là "piz", cách nói tắt của từ "lápiz", trong tiếng Tây Ban
Nha có nghĩa là bút chì. Cha của Picasso là một họa sĩ chuyên vẽ chim
theo trường phái hiện thực, ông José còn là một giảng viên nghệ thuật và
phụ trách bảo tàng địa phương, trường Mỹ thuật công nghệ tạo hình của
Barcelona. Vì vậy, Picasso có được những bài học đầu tiên về nghệ thuật
chính từ cha mình.
Vào Học viện mỹ thuật (Academia de San Fernando) tại Madrid được chưa
đầy một năm, năm 1900 Picasso đã bỏ học để sang Paris, trung tâm nghệ
thuật của Châu Âu thời kỳ đó. Tại thủ đô nước Pháp, ông sống cùng Max
Jacob, một nhà báo và nhà thơ, người đã giúp Pablo học tiếng Pháp. Đây
là giai đoạn khó khăn của người họa sĩ trẻ khi ông phải sống trong cảnh
nghèo túng, lạnh lẽo và đôi khi tuyệt vọng, phần lớn tác phẩm của Pablo
đã phải đốt để sưởi ấm cho căn phòng nhỏ của hai người. Năm 1901, cùng
với người bạn Soler, Picasso đã thành lập tờ tạp chí Arte Joven ở
Madrid. Số đầu tiên của tạp chí hoàn toàn do Pablo minh họa.
Trong những năm đầu của thế kỉ 20, Picasso thường xuyên qua lại giữa hai
thành phố Barcelona và Paris. Tại Paris, Picasso kết bạn với rất nhiều
nghệ sĩ nổi tiếng ở khu Montmartre và Montparnasse, trong đó có người
sáng lập trường phái siêu thực André Breton, nhà thơ Guillaume
Apollinaire và nhà văn Gertrude Stein. Năm 1911, Picasso và Apollinaire
thậm chí đã từng bị bắt giữ vì bị nghi ăn trộm bức tranh Mona Lisa khỏi
Bảo tàng Louvre nhưng cuối cùng hai người cũng được tha vì vô tội .
Đời tư
Năm 1904, ông bắt đầu mối quan hệ lâu dài với Fernande Olivier, người
phụ nữ xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm Thời kỳ Hồng của họa sĩ. Thời
kỳ này được gọi là Thời kỳ Hồng vì đây là thời kỳ ông toàn dùng màu hồng
nhạt mềm mại để làm nền tranh cho mình, thời kỳ Hồng của ông được tồn
tại trong 3 năm. Sau khi bắt đầu nổi tiếng và trở nên giàu có, Picasso
đã bỏ Olivier để quan hệ với Marcelle Humbert mà ông gọi đơn giản là
Eva, chủ đề của rất nhiều bức tranh theo trường phái lập thể của ông.
Sau đó ông còn đi lại với nhiều người phụ nữ khác mặc dù đã có vợ và
con. Picasso đã hai lần làm đám cưới và ông có bốn đứa con với ba người
phụ nữ. Năm 1918, họa sĩ cưới cô Olga Khokhlova, một nữ diễn viên ba lê
của đoàn ba lê Sergei Diaghilev mà Picasso đã từng nhận trang trí cho họ
vở Parade ở Roma. Khokhlova đã giới thiệu Picasso với tầng lớp trên của
nước Pháp trong những buổi tiệc tùng và gặp gỡ của những người giàu có ở
Paris trong thập niên 1920. Hai người cũng có với nhau một đứa con,
Paulo, sau này trở thành một tay đua xe phóng đãng và là tài xế cho
chính họa sĩ. Cuộc hôn nhân giữa Picasso và Khokhlova nhanh chóng chấm
dứt, tuy vậy trên danh nghĩa hai người chỉ ly thân cho đến tận khi
Khokhlova qua đời năm 1955 vì theo luật pháp Pháp, Picasso sẽ phải chia
đôi tài sản cho vợ nếu chính thức ly dị. Năm 1927 Picasso gặp cô gái 17
tuổi Marie-Thérèse Walter và bắt đầu đi lại bí mật với cô. Với
Marie-Thérèse, Picasso cũng có một người con gái, Maia. Marie-Thérèse
luôn sống với hy vọng hão huyền rằng người họa sĩ nổi tiếng sẽ lấy cô
làm vợ và cô đã treo cổ tự vẫn bốn năm sau cái chết của Picasso. Nhà
nhiếp ảnh và họa sĩ Dora Maar cũng là một người tình lâu năm của
Picasso, hai người đặc biệt gắn bó trong giai đoạn cuối thập niên 1930
và đầu thập niên 1940.
Sau khi Paris được giải phóng năm 1944, Picasso bắt đầu quan hệ với một
sinh viên nghệ thuật trẻ là Françoise Gilot. Françoise và Picasso có
chung với nhau hai đứa con, Claude và Paloma. Khác với những người tình
khác của họa sĩ, chính Françoise là người rời bỏ Pablo năm 1953. Đây là
một cú sốc với Picasso, ông nghĩ rằng mình đã già và trở nên kỳ cục
trong mắt phụ nữ, Một vài tác phẩm của ông thời kỳ cuối đã khai thác đề
tài này khi miêu tả một người lùn già nua gớm ghiếc đối lập với một cô
gái trẻ đẹp. Tuy vậy không lâu sau người họa sĩ cũng tìm được một người
tình khác, đó là Jacqueline Roque. Roque làm việc tại xưởng gốm Madoura,
nơi Picasso thực hiện các tác phẩm bằng gốm của ông. Hai người duy trì
mối quan hệ suốt phần đời còn lại của Picasso, họ cưới nhau năm 1961.
Đám cưới này cũng là một sự trả thù của họa sĩ đối với người tình cũ
Gilot. Gilot khi đó đang tìm cách hợp pháp hóa quan hệ cha con của
Picasso với Claude và Paloma. Được Picasso thúc đẩy, cô đã sắp đặt việc
ly dị với chồng là Luc Simon để cưới Picasso, qua đó bảo vệ quyền lợi
cho con chung của hai người. Tuy nhiên Picasso đã bí mật làm đám cưới
với Roque ngay sau khi Gilot hoàn thành thủ tục ly hôn, họa sĩ coi đây
là sự trả thù của ông với việc Gilot đã rời bỏ mình năm 1953.
Pablo Picasso từ trần ngày 8 tháng 4 năm 1973 tại Mougins, Pháp, trong
khi ông cùng bà Jacqueline đang chủ trì một buổi tiệc với bạn bè. Tác
phẩm ông để lại gồm có 1800 bức tranh sơn dầu, 3 vạn bản tranh, 7000 bức
ký họa phác thảo và có khá nhiều tác phẩm khó hiểu. Picasso được an
táng tại công viên Vauvenargues ở Vauvenargues, Bouches-du-Rhône.
Jacqueline Roque đã ngăn cản hai đứa con của ông là Claude và Paloma
tham gia tang lễ cha mình .
Xu hướng chính trị
Bức tranh màu phấn Autoportrait à la palette (Bức tự họa với bảng màu),
mùa thu năm 1906Picasso tỏ ra trung lập trong suốt Thế chiến thứ nhất,
Nội chiến Tây Ban Nha và Thế chiến thứ hai, họa sĩ từ chối ủng hộ bất cứ
bên tham chiến nào. Trong Nội chiến Tây Ban Nha, tuy thể hiện sự phẫn
nộ và phản đối chế độ của tướng Francisco Franco và chủ nghĩa phát xít
qua các tác phẩm của mình, Picasso không hề cầm vũ khí chống lại chế độ
này.
Năm 1944, Picasso gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và tham gia một hội nghị
hòa bình quốc tế tổ chức ở Ba Lan. Năm 1950, họa sĩ được nhận Giải
thưởng hòa bình Stalin của chính phủ Liên Xô. Năm 1962, ông được nhận
một giải thưởng lớn khác của nhà nước Xô viết, đó là Giải thưởng hòa
bình Lenin.
Tác phẩm

Autoportrait à la palette (Bức tự họa với bảng màu)
do Pablo Picasso (1881-1973) sơn vào mùa thu năm 1906
Các tác phẩm của Picasso thường được phân loại theo các thời kỳ khác
nhau. Tuy rằng tên gọi các thời kỳ sáng tác sau này của họa sĩ còn gây
nhiều tranh cãi, người ta phần lớn đều chấp nhận cách phân chia thời kỳ
đầu sáng tác của Picasso thành Thời kỳ Xanh (1901-1904), Thời kỳ Hồng
(1904-1906), Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu - điêu khắc (1908-1909), Thời kỳ
Lập thể phân tích (1909-1912) và Thời kỳ Lập thể tổng hợp (1912-1919).
Trước 1901
Picasso bắt đầu tập vẽ dưới sự hướng dẫn của cha ông từ năm 1890. Sự
tiến bộ trong kỹ thuật của họa sĩ có thể thấy trong bộ sưu tập các tác
phẩm thời kì đầu ở Bảo tàng Museu Picasso tại Barcelona. Có thể thấy chủ
nghĩa hiện thực hàn lâm trong các tác phẩm thời kì đầu này, tiêu biểu
là bức The First Communion (1896). Cũng năm 1896, khi mới 14 tuổi,
Picasso đã hoàn thành tác phẩm Portrait of Aunt Pepa (Chân dung dì
Pepa), một bức chân dung gây ấn tượng sâu sắc đến mức Juan-Eduardo
Cirlot đã đánh giá rằng "không nghi ngờ gì nữa, đây là một trong những
tác phẩm lớn nhất trong lịch sử hội họa Tây Ban Nha"[9].
Năm 1897, chủ nghĩa hiện thực của Picasso bắt đầu chịu ảnh hưởng của chủ
nghĩa tượng trưng, thể hiện qua một loạt các bức tranh phong cảnh sử
dụng tông màu xanh lá cây và tím không tự nhiên.
Thời kỳ Xanh (1901-1904)
Trong thời kỳ này, tác phẩm của Picasso có tông màu tối hơn với màu chủ
đạo là xanh thẫm, đôi khi được làm ấm hơn bởi các màu khác. Mốc bắt đầu
của Thời kỳ Xanh không rõ ràng, nó có thể bắt đầu từ mùa xuân năm 1901 ở
Tây Ban Nha, hoặc ở Paris nửa cuối năm đó[10]. Có lẽ cách dùng màu của
họa sĩ chịu ảnh hưởng từ chuyến đi xuyên Tây Ban Nha và sự tự sát của
người bạn Carlos Casagemas.
Thời kỳ Hồng (1905-1907)
Các tác phẩm của Picasso trong giai đoạn này mang vẻ tươi tắn hơn với
việc sử dụng nhiều màu cam và hồng. Năm 1904 tại Paris, Picasso gặp
Fernande Olivier, một người mẫu cho các họa sĩ và nhà điêu khắc, rất
nhiều tác phẩm của ông trong thời kỳ này chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ
nồng ấm giữa hai người.
Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu (1908-1909)
Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu bắt đầu với tác phẩm nổi tiếng Những cô nàng ở
Avignon (Les Demoiselles d'Avignon) lấy cảm hứng từ những đồ tạo tác
Phi châu. Ông cho rằng mọi loại nghệ thuật phải tự học được cái hay của
nhau. Ông chọn châu Phi làm cản hứng của mình bởi tính Lập thể rõ ràng
của nó.
Thời kỳ Lập thể phân tích (1909-1912)
Chủ nghĩa Lập thể phân tích là phong cách vẽ mà Picasso đã phát triển
cùng Georges Braque theo đó sử dụng những màu đơn sắc ngả nâu cho các
tác phẩm. Các vật thể sẽ được hai họa sĩ tách thành những bộ phận riêng
biệt và "phân tích" chúng theo hình dạng bộ phận này.
Thời kỳ Lập thể tổng hợp (1912-1919)
Đây là sự phát triển chủ nghĩa lập thể của Picasso với việc sử dụng nghệ
thuật cắt dán bằng các chất liệu vải, giấy báo, giấy dán tường để mô tả
đề tài tĩnh vật và nhân vật.
Chủ nghĩa cổ điển và siêu thực
Sau Thế chiến thứ nhất, Picasso bắt đầu thực hiện các tác phẩm theo
trường phái tân cổ điển (neoclassicism). Một trong những tác phẩm nổi
tiếng nhất của Picasso, bức Guernica đã được sáng tác trong thời kì này.
Bức tranh mô tả cuộc ném bom vào Guernica của phát xít Đức trong Nội
chiến Tây Ban Nha.

Trả Lời Với Trích Dẫn
-
05-07-2009 07:43 AM
#4
MAGICWOMAN
NGƯỜI ĐI TÌM MỘNG
- Tham gia ngày
- Aug 2005
- Vị trí
- Little SaiGon - California
- Bài gởi
- 12,253
- Số lần Cảm Ơn
- 15
- Được Cảm Ơn 25 lần trong 25 Bài Viết
Giai đoạn sau

Tác phẩm điêu khắc của Picasso tại Chicago
Picasso là một trong 250 nhà điêu khắc tham gia Triểm lãm điêu khắc quốc
tế lần thứ 3 tổ chức tại Bảo tàng mỹ thuật Philadelphia vào mùa hè năm
1949.
Trong thập niên 1950, họa sĩ một lần nữa thay đổi phong cách sáng tác,
ông thực hiện các bức tranh dựa trên phong cách của các bậc thầy cổ điển
như Diego Velázquez, Goya, Poussin, Édouard Manet, Courbet và
Delacroix.
Di sản
Khi Picasso qua đời, rất nhiều tác phẩm do họa sĩ sáng tác vẫn thuộc
quyền sở hữu của ông vì Picasso cảm thấy không cần thiết phải bán chúng.
Thêm vào đó, ông còn có một bộ sưu tập rất giá trị các tác phẩm của
những họa sĩ yêu thích như Henri Matisse. Vì Picasso không để lại di
chúc, một phần bộ sưu tập này được dùng để trả thuế cho chính phủ Pháp
và nó được trưng bày tại Bảo tàng Musée Picasso tại Paris. Năm 2003,
những người thân của họa sĩ đã cho khánh thành một bảo tàng tại thành
phố quê hương ông, Málaga, đó là Bảo tàng Museo Picasso Málaga.
Picasso có vài bức tranh nằm trong danh sách những tác phẩm nghệ thuật đắt giá nhất thế giới:
. Bức "Nude on a black armchair" - được bán với giá 45,1 triệu USD năm 1999.
. Bức Les Noces de Pierrette - được bán với giá hơn 51 triệu USD năm 1999.
. Bức Garçon à la pipe - được bán với giá 104 triệu USD tại nhà
đấu giá Sotheby's ngày 4 tháng 5 năm 2004 đã lập kỉ lục thế giới về giá
cho một tác phẩm nghệ thuật.
. Bức Dora Maar au Chat - được bán với giá 95,2 triệu USD tại nhà đấu giá Sotheby's ngày 3 tháng 5 năm 2006

Bức "Nude on a black armchair" - được bán với giá 45,1 triệu USD

Bức Garçon à la pipe - được bán với giá 104 triệu USD
thay đổi nội dung bởi: MAGICWOMAN, ngày 27-08-2009 lúc 12:09 PM

Trả Lời Với Trích Dẫn
-
05-07-2009 07:56 AM
#5
MAGICWOMAN
NGƯỜI ĐI TÌM MỘNG
- Tham gia ngày
- Aug 2005
- Vị trí
- Little SaiGon - California
- Bài gởi
- 12,253
- Số lần Cảm Ơn
- 15
- Được Cảm Ơn 25 lần trong 25 Bài Viết

Les Demoiselles d'Avignon (1907), Museum of Modern Art, New York

Nude Woman with a Necklace (1968), Tate

Guernica, 1937, Museo Reina Sofia

Trả Lời Với Trích Dẫn
-
05-07-2009 08:26 AM
#6
MAGICWOMAN
NGƯỜI ĐI TÌM MỘNG
- Tham gia ngày
- Aug 2005
- Vị trí
- Little SaiGon - California
- Bài gởi
- 12,253
- Số lần Cảm Ơn
- 15
- Được Cảm Ơn 25 lần trong 25 Bài Viết
.2 Paul Cézanne
Paul Cézanne (19 tháng 1 năm 1839 - 22
tháng 10 năm 1906) là một họa sĩ người Pháp thuộc trường phái Hậu ấn
tượng; ông là người được cho là cây cầu nối giữa trường phái ấn tượng
thế kỷ 19 tới trường phái lập thể thế kỷ 20.
Các tác phẩm của Cézanne thể hiện sự sắc sảo trong thiết kế, màu sắc,
pha trộn. Những nét vẽ tìm tòi, nhạy cảm của ông mang tính đặc trưng và
rất dễ nhận biết.

Paul Cézanne - Tự họa, khoảng 1875
Tranh vẽ

Portrait of the Artist's Father Louis-Auguste Cézanne, Reading, 1866, National Gallery of Art Washington, DC.

A Modern Olympia, 1873-1874, Musée d'Orsay, Paris

Trả Lời Với Trích Dẫn
-
21-01-2011 06:18 AM
#7
MAGICWOMAN
NGƯỜI ĐI TÌM MỘNG
- Tham gia ngày
- Aug 2005
- Vị trí
- Little SaiGon - California
- Bài gởi
- 12,253
- Số lần Cảm Ơn
- 15
- Được Cảm Ơn 25 lần trong 25 Bài Viết
.3 Gustav Klimt
Gustav Klimt (14 tháng 7 năm 1862 - 6 tháng 2
năm 1918) là một họa sỹ theo trường phái tượng trưng người Áo và là một
trong những thành viên xuất chúng nhất của phong trào Art Nouveau Wien
(Ly khai Wien). Các tác phẩm chính của ông bao gồm tranh, tranh tường,
bức phác họa và nhiều tác phẩm nghệ thuật khác, nhiều tác phẩm trong số
này đang được trưng bày ở gallery Ly khai Wien. Chủ đề hàng đầu của ông
là mô tả hình thể của người phụ nữ[1] và các tác phẩm vẽ bằng bút chì
của ông được mô tả nét khiêu gợi quyến rũ của phụ nữ dù khỏa thân hay ăn
mặc kín đáo.

Gustav Klimt, 1908. Photo by Dora Kallmus
|