Thiếu niên
Lý Tiểu Long sinh tại bệnh viện Jackson và lớn lên ở một khu phố người
Hoa thuộc San Francisco, California; cha là Lý Hải Tuyền và mẹ là Hà Ái
Du là diễn viên trong đoàn kịch lưu diễn tại Mỹ. Khi mới sinh Lý Tiểu
Long hay ốm yếu bệnh tật.
Năm 1941 (1 tuổi) Lý Tiểu Long cùng bố mẹ trở về cố hương của họ tại
Hồng Kông và sống trong một căn hộ tại đường 218 Nathan. Tới năm 1946 Lý
Tiểu Long đóng vai đầu tiên trong phim The Beginning of a Boy và sau
đó, anh tham gia trong các phim The Birth of Mankind, My Son và Ah Cheun
v.v. (khoảng 20 phim). Từ các vai trẻ em này, tài năng diễn xuất của
anh dần được bộc lộ.

Năm 1952 (12 tuổi) Lý Tiểu Long bắt đầu theo học tại trường trung học La
Salle. Một năm sau, (1953) Lý hay giao du với bọn trẻ lêu lổng, thường
gây lộn đánh nhau trên đường phố. Sau một lần bị đánh bại anh theo học
Vịnh Xuân quyền cùng danh sư Diệp Vấn. Diệp Vấn về sau là chưởng môn hệ
phái Vịnh Xuân quyền Hồng Kông.
Năm 1954 (14 tuổi) Lý Tiểu Long theo học khiêu vũ. Với vũ điệu
cha-cha-cha, anh giành giải quán quân trong một cuộc thi khiêu vũ vào
năm 1958 (18 tuổi). Cũng trong những năm này Lý Tiểu Long có một vai
diễn trong The Orphan. Đây là vai trẻ em cuối cùng cũng là phim duy nhất
không có cảnh đánh đấm. Cùng năm đó anh tham gia giải quyền Anh và đánh
bại người vô địch 3 năm liền là David Kefield.
Thành danh trong võ nghiệp
Những lớp võ đầu tiên
Vào năm 19 tuổi (1959), do có dính líu đến Hội Tam Hoàng mà Lý Tiểu Long
bị cảnh sát Hồng Kông điều tra. Vì lo lắng cho con nên bố mẹ anh đã
quyết định đưa anh sang Mỹ, quay lại với San Francisco. Với 15$ của bố
và 100$ của mẹ, Lý Tiểu Long đã đến Mỹ và sống với một người bạn cũ của
bố. Anh làm việc trong cộng đồng người Hoa và về sau chuyển tới Seattle,
Washington để làm việc cho Thiệu Như Hải, một người bạn khác của cha.
Anh sống trong một căn phòng trên gác của một nhà hàng với vai trò bồi
bàn. Cuối cùng Lý Tiểu Long gia nhập trường Trung học Công nghệ Edison.
Thời gian này anh bắt đầu dạy võ trong sân sau và ở công viên của thành
phố.
Tháng 3 năm 1961, 21 tuổi, Lý Tiểu Long vào học khoa Triết học của Đại
học Washington. Cũng vào khoảng thời gian này anh đã mở lớp dạy Kungfu
cho sinh viên của trường.

Mùa hè năm 1963, Lý Tiểu Long cầu hôn với Amy Sanbo nhưng bị cô từ chối.
Lý Tiểu Long trở lại Hồng Kông với bạn là Doug Palmer. Đây là lần đầu
Lý về thăm gia đình kể từ khi sang Mỹ. Trong lần trở lại Hồng Kông Lý
Tiểu Long có quay lại với Diệp Vấn xin theo học nốt phần cuối bài Mộc
nhân thung[1] mà Lý chưa học hết, nhưng bị Diệp Vấn từ chối. Lý Tiểu
Long đã theo học với Thiệu Hán Sinh (sinh năm 1900) một số bài như Tinh
võ hội tiết quyền, Thất tinh Đường lang băng bộ quyền v.v. Sau đó anh
phải quay lại Seattle để tiếp tục việc học tập của mình, đồng thời bắt
đầu nghiên cứu tìm cách dung hợp kỹ thuật của các võ phái để phát triển
một đường hướng riêng.
Ngày 25 tháng 10 năm 1963 (23 tuổi), Lý Tiểu Long có buổi hẹn hò đầu
tiên với Linda Emery (sau trở thành người vợ tương lai của anh). Họ đã
có buổi ăn tối tại Space Needle. Thời gian này Lý Tiểu Long bắt đầu mở
Trấn Phan Võ Quán. Anh dời "Trấn Phan Võ Quán" tới đường 4750 University
gần khu sân bãi của trường đại học và tại đây, anh dạy một vài đệ tử
trong số đó có cả người Mỹ. Tại trường Trung học Garfield Lý Tiểu Long
đã biểu diễn thốn quyền, một kĩ thuật đặc thù của nguyên lý "đoản kiều
phát lực" trong võ phái Vịnh Xuân quyền. Cú đấm này về sau đã làm lên sự
nổi tiếng của anh tại 64' Long Beach Internationals.
Năm 1964 (24 tuổi) Lý Tiểu Long gặp Jhoon Rhee tại cuộc thi karate quốc
tế. Cả hai đều đạt kết quả tốt, Về sau Jhoon Rhee đã mời Lý Tiểu Long
đến Washington, D.C. tham dự một giải đấu. Anh bàn với James Yimm Lee kế
hoạch mở "Trấn Phan Võ Quán" thứ hai tại Oakland, California. Kế hoạch
được thực hiện, và Lý Tiểu Long rời Seattle để bắt đầu võ quán thứ hai ở
Oakland. Một người bạn tốt của Lý Tiểu Long, Taky Kimura (Mộc Thôn,
người Nhật), đảm đương vai trò người đứng đầu.
Ngày 2 tháng 8 năm 1964, Ed Parker, được biết đến như cha đẻ của karate
Mĩ (Kempo), mời Lý Tiểu Long biểu diễn. Lý Tiểu Long đã biểu diễn đòn
Thốn quyền và hít đất với 2 ngón tay. Tại giải Karate quốc tế lần đầu có
sự hiện diện Jay Sebring và William Dozier, một nhà sản xuất, người
đang tìm kiếm một diễn viên cho một serie truyền hình mà ông đang làm.
Sebring đưa bộ phim Cuộc biểu tình của Lý Tiểu Long cho Dozier, người
rất ấn tượng với khả năng siêu phàm của Lý Tiểu Long. Sau đó Lý Tiểu
Long bay tới Los Angeles, California để diễn thử.
Ngày 4 tháng 8 năm 1964, khi 24 tuổi, Lý Tiểu Long trở lại Seattle để
cầu hôn Linda, và tới ngày 17 tháng 8 cùng năm thì anh cưới Linda. Ngay
sau đó đôi vợ chồng trẻ chuyển đến Oakland.
Nghiên cứu và sáng tạo Triệt quyền đạo
Năm 1965, chỉ vài tháng sau khi cưới Lý Tiểu Long nhận được lời thách
đấu của Hoàng Trạch Dân (Wong Jack Man), một thầy dạy Kungfu tại khu phố
Tàu. Họ thỏa thuận nếu Lý Tiểu Long thua anh sẽ phải hoặc là đóng cửa
võ quán của mình hoặc ngưng dạy những người da trắng, còn nếu Jack thua
anh ta sẽ phải ngừng dạy võ. Hoàng Trạch Dân không tin là Lý Tiểu Long
sẽ dám nhận lời thách đấu, và cố trì hoãn trận đấu. Lý Tiểu Long đã nhận
lời và yêu cầu họ không phải đợi. Hoàng Trạch Dân sau đó cố giới hạn kỹ
thuật. Lý Tiểu Long khước từ những quy định đó và họ đã không đi đến
thỏa thuận. Lý Tiểu Long đánh bại kẻ thù chỉ trong giây lát và giành
phần thắng. Hoàng Trạch Dân bỏ chạy nhưng Lý Tiểu Long tóm lại và đánh
gục hắn ngay trên võ đài. Đệ tử của Hoàng Trạch Dân định can thiệp song
James Jimmy Lee, một người bạn tốt của Lý Tiểu Long đã ngăn lại. Sau đó
Lý Tiểu Long nhận ra tại sao trận đấu lại diễn ra lâu như vậy. Lý Tiểu
Long bắt đầu suy nghĩ về bản thân. Đó chính là cơ sở sau này cho môn võ
Triệt quyền đạo (Jeet Kune Do), "Nghệ thuật chiến đấu bằng cách chặn
đứng đòn tấn công của đối phương" đã được ra đời. Triệt Quyền Đạo là một
môn võ bao gồm đòn thế của nhiều môn phái như quyền Anh phương Tây,
quyền Thái, Karate Nhật Bản, Taekwondo Hàn Quốc, võ Trung Hoa - Hồng Gia
Quyền, Vịnh Xuân Quyền trong đó đặc biệt nhấn mạnh các kỹ thuật của
Vịnh Xuân Quyền (như bài Mộc nhân thung cải cách) được Lý Tiểu Long gọi
chung là Kungfu.
Sự nghiệp điện ảnh

Diễn viên phim The Green Hornet
Năm 1966, Lý Tiểu Long bắt đầu để lại dấu ấn trong trong bộ phim truyền
hình Mỹ có tên gọi The Green Hornet và được trả một khoản thù lao 1800$.
Ngày 1 tháng 1 năm 1965, Lý Quốc Hào (Brandon Lee) con trai duy nhất của
anh chào đời. Sau đó khoảng 1 tháng, ngày 8 tháng 2 năm 1965, cha Lý
Tiểu Long qua đời tại Hồng Kông và Lý Tiểu Long đã trở về Hồng Kông dự
đám tang cha (nhưng không kịp). Theo phong tục cổ, người con coi là bất
hiếu nếu vắng mặt khi cha mất, vì vậy Lý Tiểu Long đã quỳ gối suốt từ
cửa tới bình đựng tro hỏa táng của cha mà khóc. Tháng 5 năm 1965 Lý Tiểu
Long sử dụng số tiền còn lại từ bộ phim The Green Hornet để bay trở lại
đưa Linda và Quốc Hào quay lại Hồng Kông để giải quyết gia sản của
người cha để lại. Trong khi ở Hồng Kông anh đưa Quốc Hào đến gặp danh sư
Diệp Vấn. Đến tháng 9 năm 1965 anh cùng vợ và con quay trở lại Seattle.

Năm 1966, Lý Tiểu Long cùng gia đình dời đến Los Angeles sống trong một
căn hộ tại Wilshire, Westwood. Đây là nơi anh làm việc cho tập phim
truyền hình gọi là The Green Hornet trong vai Kato. Bộ phim The Green
Hornet bắt đầu được quay và Lý Tiểu Long được trả $400 cho mỗi phần. Sau
đó Lý Tiểu Long mở thêm một chi nhánh thứ ba của "Trấn Phan Võ Quán"
tại khu phố Tàu của thành phố Los Angeles. Đến tháng 9 cùng năm, bộ phim
The Green Hornet trở nên rất ăn khách.
Trong suốt giai đoạn tiếp theo, từ 1967 đến 1971 Lý Tiểu Long tham gia
vào nhiều phim khác nhau trong đó có các bộ phim truyền hình. Ngoài ra
anh còn dạy võ với mức lương tới 250$ mỗi giờ cho những người nổi tiếng
như Steve McQueen, James Coburn, James Garner, Lee Marvin, Roman
Polanski và Kareem Abdul Jabbar. Lý Tiểu Long gặp Chuck Norris tại New
York khi cùng tham gia giải Karate toàn quốc ở Washington D.C., Chuck
đấu với Joe Lewis và giành phần thắng. Đầu năm 1967 Lý Tiểu Long gặp Joe
Lewis tại khách sạn Mayflower, cả hai đều là khách mời của giải Karate
quốc tế năm 1967. Joe đang cố giành phần thắng trong giải đấu còn Lý
Tiểu Long đang có sự xuất hiện đặc biệt với vai Kato. Tháng 2 cùng năm
Lý Tiểu Longmở võ quán thứ ba của mình tại đường 628 College, Los
Angeles. Dan Inosanto trợ giúp như một phụ tá hướng dẫn. Đến ngày 14
tháng 7 phần cuối của phim The Green Hornet được trình chiếu. Bộ phim
sau đó được nói rằng phải bỏ dở vì Lý Tiểu Long, nhân vật phụ, trở nên
nổi tiếng còn hơn cả nhân vật chính của phim.
Ngày 19 tháng 4 năm 1969 con gái Lý Phiên Ngưng (Shannon Lee) cất tiếng khóc chào đời.
Năm 1970, khi 30 tuổi, Lý Tiểu Long bị thương nặng ở lưng và trong khi
tập luyện. Bác sĩ nói rằng anh không thể luyện võ tiếp tục được. Trong
suốt những tháng ngày phục hồi sức khỏe Lý Tiểu Long bắt đầu viết về
phương pháp luyện tập của mình chứng nghiệm từ chính bản thân cho môn võ
Tiệt quyền đạo. Sau khi anh mất, Con đường Triệt Quyền Đạo[2] được xuất
bản bởi vợ anh trong những kí ức về Lý Tiểu Long. Cũng trong năm này,
Lý Tiểu Long và Quốc Hào bay về Hồng Kông trong sự chào đón của khán giả
hâm mộ bộ phim The Green Hornet.
Bắt đầu đạo diễn kịch bản
Tháng 2 năm 1971 Lý Tiểu Long cùng James Coburn, Stirling Silliphant bay
sang Ấn Độ để khảo sát những cảnh quay cho The Silent Flute. Họ mất một
tháng trời tìm kiếm song miễn cưỡng để từ bỏ do Coburn bỏ dở kế hoạch.
Chuyến du ngoạn này đã giúp cho Lý Tiểu Long có ý tưởng cho bộ phim Trò
chơi tử vong.

Năm 1971 khi 31 tuổi Lý Tiểu Long kết thúc chuyến du ngoạn ngắn ngủi
quay trở lại Hồng Kông để thu xếp cho mẹ tới Mĩ. Trong thời điểm này anh
đang là một siêu sao của phim The Green Hornet đã trở thành phim truyền
hình ăn khách nhất ở Hồng Kông. Sau đó anh nhận được lời mời của Trâu
Văn Hoài, một nhà sản xuất phim mới, tham gia trong bộ phim Đường Sơn
đại huynh và Lý Tiểu Long đã nhận lời. Lý Tiểu Long được cấp một căn hộ
với đồ đạc có sẵn ở đường số 2 Man Wan - Cửu Long, Hồng Kông. Nguyên
Hoa, trợ lý của Lý Tiểu Long suốt 3 năm liền, người sau này cũng trở
thành một diễn viên nổi tiếng từng tham gia trong các phim Tinh Võ Môn,
Long tranh hổ đấu và Tuyệt đỉnh Kungfu đóng cùng Chu Tinh Trì) đã đi
cùng Lý Tiểu Long và Linda. Sau đó Nguyên Hoa kết hôn và vợ mới của anh
cũng đi cùng. Cùng lúc này Lý Quốc Hào nhập học tại trường trung học La
Salle, ngôi trường mà phụ thân của anh theo học 15 năm trước.
Cũng trong năm 1971 Lý Tiểu Long được mời phỏng vấn trong chương trình
"Canadian Talk" hướng dẫn bởi Pierre Berton, lúc đó đang làm phim tại
Hồng Kông. Chương trình này chỉ làm phim về sự thực và ít đề cao các kĩ
xảo điện ảnh trong phim võ thuật.
Thời kỳ rực rỡ
Tháng 7 năm 1971 đoàn làm phim bắt đầu quay Đường Sơn Đại Huynh (phát
hành tại Mỹ dưới tên The Big Boss). Đường Sơn Đại Huynh mở ra một làn
sóng hâm mộ ở Hồng Kông và lượng khán giả khổng lồ. Doanh thu của bộ
phim đạt hơn 3,5 triệu đô la chỉ trong khoảng 3 tuần. Năm 1972 Tinh Võ
Môn (phát hành tại Mỹ với tên The Chinese Connection) được công chiếu.
Nó đạt doanh thu còn hơn cả Đường Sơn Đại Huynh và sau này đã đưa tên
tuổi của Lý Tiểu Long liệt vào hàng siêu sao Hồng Kông. Lý Tiểu Long thu
về được một khoản lợi nhuận đủ để trang trải một vài thứ, và anh cũng
có tham gia đạo diễn cho phim này.
Lý Tiểu Long bắt đầu đóng phim Trò Chơi Tử Vong và một vài cảnh trong phim có xuất hiện Danny Inosanto và Kareem Abdul-Jabbar.
Lý Tiểu Long xuất hiện trên kênh TVB của Hồng Kông trong một cuộc vận
động ủng hộ những người gặp thiên tai. Cuộc biểu diễn quyên góp được sự
hoan nghênh nhiệt liệt của khán giả.

Năm 1972 Lý Tiểu Long đưa đoàn làm phim sang Roma (Ý) làm bộ phim thứ ba
là Mãnh Long Quá Giang (The Way Of The Dragon, phát hành tại Mỹ dưới
tên The Return Of The Dragon). Lần này Lý Tiểu Long đảm nhận hầu hết các
vai trò từ viết kịch bản, đạo diễn, rồi kiêm diễn viên. Chuck Norris là
cảnh giao đấu cuối cùng của Lý Tiểu Long. Một lần nữa, bộ phim này vượt
trội hơn nhiều so với hai phim trước. Ngày 28 tháng 12 năm 1972 người
em của Lý Tiểu Long, James, qua đời vì bị lao phổi.
Tháng 2 năm 1973 Lý Tiểu Long có cơ hội khi phim Long Tranh Hổ Đấu
(Enter The Dragon) được khởi quay trong khi Trò Chơi Tử Vong được bắt
tay vào. Đây chính là bộ phim đầu tiên do Mỹ và Hồng Kông hợp tác sản
xuất. Bộ phim Long Tranh Hổ Đấu hoàn thành vào tháng 4 năm 1973, khi Lý
Tiểu Long 32 tuổi.
Cái chết
Những ngày trước khi chết
Vào ngày 20 tháng 2 năm 1973, Lý Tiểu Long tham dự ngày lễ thể thao tại
trường St. Francis Xavier. Cũng đầu năm này, Grace Lee, mẹ Lý Tiểu Long,
gặp anh tại Los Angeles. Lý Tiểu Long thổ lộ với bà rằng anh không muốn
sống thêm nữa và bà không phải lo về tài chính, tuy nhiên bà nghĩ con
trai bà nói vớ vẩn.
Ngày 16 tháng 7 năm 1973 mưa to do cơn bão lớn tại Hồng Kông. Lý Tiểu
Long tiêu phí 200$ để điện thoại cho Unicorn, người đã làm bộ phim ở
Manila, trong phòng của anh tại khách sạn. Lý Tiểu Long nói với Unicorn
anh thực sự thấy lo lắng về những cơn đau đầu mà mình đang phải chịu
đựng. Ngày 18 tháng 7 cùng năm mái nhà của Lý Tiểu Long tại đường
Cumberland ở Hong Kong bị thổi tung vì mưa to gió lớn. Tới ngày 20 tháng
7, Lý Tiểu Long viết một bức thư cho vị luật sư, Adrian Marshall, anh
muốn thảo luận trên chuyến đi trở về Los Angeles. Lý Tiểu Long đã có tấm
vé sẵn sàng trở về Mỹ cho buổi trình diễn trước công chúng, và anh dự
định sẽ xuất hiện trên chương trình của Johnny Carson.
Diễn biến cái chết
Raymond Chow (Châu Văn Hoài) đến nhà Lý Tiểu Long và hai người cùng bàn
bạc về kế hoạch cho bộ phim Trò chơi tử thần. Linda hôn tạm biệt Lý Tiểu
Long và nói cô phải ra ngoài làm mấy việc lặt vặt (đi chợ) và sẽ gặp
anh vào buổi tối.
Raymond và Lý Tiểu Long tới thăm diễn viên Betty Ting Pei (Đinh Phối)
tại căn hộ của cô để bàn về vai diễn của cô trong phim Game of Death. Họ
dự định sẽ có bữa ăn tối để gặp George Lazenby và mời anh tham gia vào
phim. Lý Tiểu Long nói rằng anh cảm thấy bị đau đầu, hỏi mượn tạm thuốc
giảm đau của Betty, sau đó anh nằm lại trên giường của cô chờ đến bữa
tối. Raymond Chow ra về và nói sẽ gặp lại họ sau.
Raymond Chow và George Lazenby gặp nhau tại nhà ăn và ngồi chờ Lý Tiểu
Long và Betty tới, nhưng cả hai đều không xuất hiện. Lúc 9:00 tối, Chow
nhận được cú điện của Betty; cô nói đã cố đánh thức Lý Tiểu Long nhưng
anh không dậy. Betty đã gọi bác sĩ riêng của cô, ông ta cố giúp Lý Tiểu
Long hồi tỉnh và sau đó đưa anh đến bệnh viện. Nhưng Lý Tiểu Long đã
không thể tỉnh lại và anh đã vĩnh viễn ra đi. Bác sĩ đã rất ngạc nhiên
khi biết anh bị hôn mê lâu như vậy vào buổi tối hôm đó nhưng thật không
may Betty đã không gọi ông tới giúp sớm hơn cô ấy có thể.
Lý Tiểu Long chết tại Hồng Kông vì chứng phù não (não bị sưng to). Sau
nhiều cuộc thảo luận và tranh cãi, các bác sĩ đã công khai nguyên nhân
tử vong của Lý Tiểu Long là "chết do tai nạn bất ngờ". Bộ phim Trò chơi
tử thần (Game Of the Death) đã phải trì hoãn lại 4 ngày sau vì diễn viên
chính đã mất.
Ngày 25 tháng 7 năm 1973 tang lễ Lý Tiểu Long được tổ chức tại Hồng Kông
và đã có hơn 25.000 người hâm mộ, bạn bè tới dự. Lý Tiểu Long được chôn
cất cùng với bộ quần áo ưa thích mà anh từng mặc trong Long tranh Hổ
đấu.
Ngôi mộ của Lý Tiểu Long
Ngày 30 tháng 7 năm 1973, sau một tang lễ nhỏ thứ hai ở Seattle,
Washington tại Butterworth trên đại lộ East Pine, Lý Tiểu Long được chôn
cất ở Nghĩa trang Lake View. Tiễn đưa anh bao gồm Steve McQueen, James
Coburn, Danny Inosanto, Taky Kimura, Peter Chin, Chuck Norris và người
em trai, Robert Lee.
Gia đình
Con trai của Lý Tiểu Long là Lý Quốc Hào (Bradon Lee), trong lúc diễn
một bộ phim tâm lý có cảnh quay bắn súng, một viên đạn trong khầu 44 đã
trúng vào người anh (đáng lẽ ra khẩu súng này không có đạn) và khiến anh
qua đời vào năm 1993 , khi anh được 30 tuổi.

Ngôi mộ của Lý Tiểu Long và con trai, Lý Quốc Hào
Các tác phẩm chính
Đường Sơn đại huynh (The Big Boss)
Công chiếu 3-10-1971. Đường Sơn đại huynh khởi quay từ tháng 7 năm 1971
tại một vùng thị trấn nhỏ hẻo lánh tại Thái Lan. Bộ phim kể về một thanh
niên nhà quê tên là Trịnh Triều An (do Lý Tiểu Long thủ vai) lên thành
phố tìm việc làm. Nhờ sự giúp đỡ của người chú, anh nhận được một chỗ
trong một xưởng làm đá cùng nhiều anh em khác, nhưng xưởng này làm ăn
bất chính (sản xuất thuốc phiện). Sau khi biết anh là người giỏi võ nghệ
chúng dùng tiền bạc và đàn bà để mua chuộc anh hòng biến anh thành tay
sai cho chúng, nhưng sau khi phát hiện ra việc làm mờ ám của bọn chúng
anh đã nhanh chống lại và triệt phá được băng đảng này.
Bộ phim ra đời đã gây được tiếng vang lớn trong ngành phim võ thuật, thu
về hơn $3.5 triệu trong khi Lý Tiểu Long chỉ nhận được 15.000 USD.
Tinh Võ Môn (Fist of Fury)
Công chiếu 22-3-1972. Bộ phim kể về Trần Chân (Chen Zhen), do Lý Tiểu
Long thủ vai, là đệ tử của Hoắc Nguyên Giáp (một nhân vật nổi tiếng của
Trung Hoa, người sáng lập ra Tinh Võ Môn). Được tin sư phụ mất, anh lập
tức trở về dự tang sư phụ. Thấy có nhiều ẩn khúc trong cái chết bí ẩn
của người thầy, Trần Chân quyết tâm điều tra một mình, sau cùng anh phát
hiện ra rằng chính những người trong võ quán của Nhật, đã ra tay dưới
sự giúp đỡ của một số tên phản bội trà trộn trong Tinh Võ Môn, lần lượt
bọn chúng phải trả giá. Để cho yên chuyện, cảnh sát Thượng Hải yêu cầu
Trần Chân phải thí mạng, và đây là bộ phim duy nhất Lý Tiểu Long bị
chết, cũng như lần duy nhất anh hôn một cô gái trên phim ảnh. Nhân vật
Trần Chân sau này được đưa lên phim ảnh với diễn xuất của ngôi sao Chân
Tử Đan (1995) cũng rất thành công.
Bộ phim được dàn dựng hoàn toàn trong trường quay, và 27 năm sau nó trở
thành một trong 10 kiệt tác của Hồng Kông. Sau này năm 1994 nó được làm
lại thành bộ phim Fist of Legend do diễn viên Lý Liên Kiệt thủ vai.
Mãnh Long quá giang (The Way of The Dragon)
Công chiếu 30-12-1972. Mở đầu là cảnh một anh thanh niên nhà quê ngơ
ngác, kết thúc là màn biểu diễn võ mèo. Nhân vật chính trong phim là
Đường Long, một thanh niên Hồng Kông sang Roma theo lời giới thiệu của
một người chú để giúp đỡ một cô gái. Quán ăn của cô gái đang bị một nhóm
xã hội đen phá đám, gây áp lực đòi cô phải bán lại nhà ăn. Do không
biết chút tiếng Anh lại ngơ ngác ban đầu anh bị mọi người trong quán coi
thường, mọi chuyện chỉ thay đổi sau khi Đường Long giúp đánh đuổi
chúng. Cảnh đấu cuối cùng là một cảnh quay tại đấu trường La Mã đổ nát
cùng với diễn viên người Mỹ rất nổi tiếng bấy giờ là Chuck Norris.
Bộ phim do Lý Tiểu Long viết kịch bản, đạo diễn kiêm diễn viên là bộ
phim duy nhất trong 4 tác phẩm của Lý Tiểu Long có những cảnh hài hước.
Long tranh Hổ đấu (Enter the Dragon)
Công chiếu 19-8-1973. Là bộ phim đánh dấu có sự hợp tác giữa Hồng Kông
và Mỹ. Trong phim là nhân vật "Lý" một để tử Thiếu Lâm tự vâng lời sư
phụ đi trừng phạt kẻ phản bội sư môn (tên họ Hàn, do diễn viên Shih Kien
thủ vai). Biết được chị gái của mình bị đệ tử của tay họ Hàn hại chết,
với sự giúp sức của một tổ chức an ninh anh quyết định tham gia giải thi
đấu võ nhằm đột nhập sào huyệt của bọn chúng là một hòn đảo. Cùng đi
với anh còn có hai người bạn nữa là Roper và William, nhưng William sau
đó đã bị họ Hàn giết chết trên đảo. Tại sào huyệt của chúng Lý vừa tham
gia cuộc tỉ thí võ thuật còn ban đêm với sự giúp đỡ của một nữ tình báo
tên là Mỹ Linh anh đột nhập vào sào huyệt của bọn chúng. Lần thứ hai thì
anh bị bắt, nhưng cùng với Roper họ đã diệt được băng của họ Hàn.
Mặc dù bộ phim rất thành công song diễn viên chính của nó lại chẳng có
cơ hội được xem nó, sau khi đóng phim này Lý Tiểu Long bị sút gần 15 kg,
trong phim Lý Tiểu Long có bày tỏ một số quan điểm về võ thuật của
mình, đúng như mong ước của anh là dùng điện ảnh để truyền bá võ thuật.
Ngày 24 tháng 8 năm 1973, Long tranh Hổ đấu đứng đầu tại rạp Graumann.
Bộ phim rất thành công, và Lý Tiểu Long trở nên nổi tiếng trên toàn thế
giới.
Trò Chơi Tử Vong (Game of Death)
Công chiếu 1978. Còn được biết đến với cái tên khác như Tử vong du hí,
đây là bộ phim cuối cùng của Lý Tiểu Long. Anh vào vai Billy Lo, một
diễn viên nổi tiếng bị một tổ chức do Mr. Land cầm đầu đe dọa tống tiền.
Vì chống lại chúng nên Billy bị chúng âm mưu ám toán, nhưng không
thành, anh chỉ bị thương nặng ở mặt. Sau đó anh làm phẫu thuật mặt và tổ
chức một đám tang giả nhằm đánh lừa tổ chức của Mr. Land để dễ bề đối
phó. Vì là một diễn viên, anh cải trang để theo dõi chúng tại Macao,
Billy đã giết chết cận vệ của Land là Carl (một cao thủ Karate) nhưng
sau đó chúng biết anh còn sống và đã bắt Anna Young - bạn gái của Billy
gây áp lực, nhưng cuối cùng từng tên trong băng đảng này cũng phải đền
tội.
Bộ phim có sự tham gia của một số diễn viên như Danny Inosanto và Kareem
Abdul-Jabbar (trong vai Hakim), trong phim Lý Tiểu Long có biểu diễn
khả năng sử dụng côn nhị khúc, ngoài ra, bộ phim còn sử dụng cảnh đám
tang thật của Lý Tiểu Long.
Tháp Tử Vong (Tower of Death)
Công chiếu 21-3-1981. Còn được biết đến với cái tên khác là Tử vong du
hí 2 hoặc Trò chơi tử vong 2 (Game of Death 2), đây là phần tiếp theo
của bộ phim Trò Chơi Tử Vong và được sản xuất sau khi Lý Tiểu Long qua
đời. Billy Lo trở lại để khám phá ra sự thật sau cái chết của bạn anh -
Chin Ku (do Wong Ching Lei thủ vai). Mặc dù được biết Chin Ku chết do
bệnh, tuy nhiên có nhiều nghi vấn về sự thật cái chết này và bộc lộ rõ
hơn khi xảy ra vụ cướp quan tài của Chin Ku khi chuẩn bị an táng ngoài
nghĩa trang. Billy Lo đã bị sát hại khi cố gắng đuổi theo bọn cướp. Khi
hay tin về cái chết của anh mình, Bobby Lo (Tong Lung) - em trai của
Billy - đã tạm biệt sư phụ và quyết định điều tra manh mối. Chẳng bao
lâu Bobby đã đến Lâu đài Tử thần, nơi mà anh có được một tình bạn không
mong muốn với võ sư Lewis (Roy Horan) độc ác và tàn nhẫn, cũng là chủ
nhân của tòa lâu đài. Sau đó, Lewis cũng bị giết hại một cách tàn bạo và
Bobby phải một mình đối mặt với hiểm nguy trong Tháp Tử vong. Anh đã
gặp Chin Ku, người bạn cũ của Billy, cũng chính là người đã sát hại anh
trai mình để giữ bí mật cho một tổ chức buôn lậu nha phiến do y cầm đầu.
Trong lần đọ sức này với Bobby, Chin Ku đã thất bại và gục ngã vào
chính chiếc quan tài mà y đã chuẩn bị sẵn cho các vị khách không mời mà
đến Tháp Tử vong.
Phim sử dụng nguồn phim dự trữ từ các phim cũ của Lý Tiểu Long, phần lớn
là từ phim Long tranh Hổ đấu. Ngoài ra, một số cảnh trong phim có sử
dụng diễn viên đóng thế Lý Tiểu Long.
Lý Tiểu Long - còn mãi một huyền thoại
Tên tuổi gắn liền với phim võ thuật, qua đời gần 40 năm về trước,
ngày 20/7/1973, ở tuổi 32, đến giờ vẫn còn được biết bao người hâm mộ
tôn thờ. Ông chỉ lưu dấu ấn qua vài tác phẩm, nhưng chừng ấy cũng đủ để
cái tên Tiểu Long trở thành huyền thoại.

Đến giờ, các bộ phim của Lý Tiểu Long vẫn còn đắt hàng. Các trang web về
ông chẳng ngày nào vắng khách. Không chỉ những cú đá mạnh, dứt khoát,
nhanh như điện hấp dẫn người xem mà cả những câu nói đầy tính triết lý,
những giả thuyết về cái chết bí ẩn của ông cũng làm nhiều độc giả tò mò.
Lý Tiểu Long qua đời vì chứng phù não tại ngôi nhà của một nữ diễn viên
Hong Kong và yên nghỉ tại nghĩa trang Lake View ở Seattle, nơi ông từng
theo học môn triết tại Đại học Washington. Nhân viên điều tra cho đó là
một cái chết rủi ro, một tai nạn bất ngờ, còn dư luận thì đồn rằng ông
qua đời vì dùng ma tuý quá liều, hoặc bị một hội nào đó trả thù. Bí hiểm
hơn là con trai ông cũng qua đời trong một hoàn cảnh bất thường. Ở tuổi
28, Brandon bị thương nặng tại trường quay năm 1992 bởi một viên đạn
lạc.
Ngay cả những ngôi sao võ thuật lớn thời nay như Lý Liên Kiệt, Thành
Long cũng chưa bao giờ vượt qua cái bóng của người tiền nhiệm. Bản thân
"Hiệp sĩ Thượng Hải" cũng thừa nhận, ảnh hưởng của Tiểu Long lớn đến độ,
anh không dám đi theo con đường mà bậc tổ phim võ thuật đã đi qua. Kết
quả là tên tuổi Thành Long gắn với những bộ phim hài. Anh tâm sự: "Tiểu
Long tung những cú đá sấm sét rất cao, nên tôi chỉ còn một lựa chọn là
đá thấp chân. Mỗi lần phóng ra một quả đấm, Tiểu Long lại thét lớn
Aahh..., còn tôi tiếp sau những cú thụi là một gương mặt nhăn nhở cười".
Thành Long cố gắng không đi vào con đường mà Tiểu Long đã qua, một phần
vì bậc tổ võ thuật có ảnh hưởng quá lớn, một phần vì những cú đòn của
Tiểu Long quá hiểm, khó mà bắt chước. Theo Law Kar, nhà nghiên cứu Lý
Tiểu Long, cú đòn của ông là sự kết hợp của kungfu, võ taekwondo của Hàn
Quốc, karatedo của Nhật Bản và cả đấm bốc Tây phương.
Có công lớn trong việc truyền bá phim võ thuật Hong Kong với thế giới,
nhưng Lý Tiểu Long không được ưu đãi tại quê nhà. Đến giờ, phần thưởng
duy nhất đối với ông là một hình nộm ở bảo tàng Maddam Tussaud ở Anh,
ngoài ra vẫn chưa có một phòng lưu niệm, một bức tượng nào của ông ở
Hong Kong.
Con đường hóa rồng của Lý Tiểu Long
Ra đi ở tuổi 33 nhưng Lý Tiểu Long vẫn mãi được coi là một tượng đài võ thuật của điện ảnh.
Mặc dù trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Lý Tiểu Long chỉ tham gia một
số ít phim nhưng hình ảnh của anh trên thế giới vẫn luôn vững vàng và
mạnh mẽ như nắm đấm huyền thoại của chính anh. Mất ngày 20/7/1973, nhưng
cho đến lúc này và chắc chắn sẽ còn rất lâu nữa, Lý Tiểu Long sẽ mãi
được nhắc tới như một biểu tượng kungfu.


Năm 1966, Lee đóng cặp cùng Van Williams trong serie phim truyền
hình Mỹ có tên Green Hornet. Đây là bộ phim đưa anh đến với công chúng
Mỹ. Việc chọn Bruce Lee tham gia Green Hornet cũng là một quyết định táo
bạo, bởi lẽ vào thời điểm đó, hầu như chẳng có hãng phim nào cho rằng
một người châu Á có thể đảm nhận vai chính thành công. Trên thực tế, Lý
Tiểu Long sinh ra ở Mỹ - anh sinh ngày 27/11/1940 tại San Francisco -
nhưng lại lớn lên ở Hong Kong.

Cậu thanh niên Lý Tiểu Long thường xuyên đánh nhau trên đường phố,
điều này đã khiến tháng 4/1959, bố mẹ quyết định đưa anh trở lại San
Francisco để sống với chị gái. Tại đây, Lý Tiểu Long làm công việc hầu
bàn, học xong trung học, và bắt đầu tự học kung fu. Trong ảnh là Lý Tiểu
Long của năm 1959.

Sau khi tốt nghiệp trung học, Lý Tiểu Long theo học khoa kịch nghệ
tại đại học Washington. Tuy nhiên, năm 1964, anh bỏ ngang để xây dựng
một võ đường ở Oakland, California. Trong ảnh là một cảnh của Lý Tiểu
Long trong Green Hornet.

Năm 1965, thất vọng với màn trình diễn của mình tại một giải thi
đấu võ thuật, Lý Tiểu Long đã tự tạo ra một loại võ riêng. Anh gọi nó là
Tiệt quyền đạo (nhưng ở Việt Nam, nó có cái tên phổ biến hơn là Triệt
quyền đạo). Môn võ này có tính linh hoạt hơn rất nhiều so với các môn võ
khác.

Lòng quả cảm của Lý Tiểu Long được thể hiện trong các trận đấu ở
cả trên sàn đấu lẫn ngoài đường phố. Năm 1964, Lý Tiểu Long nổi tiếng
sau khi hạ gục một đối thủ - kẻ yêu cầu anh phải ngừng nhận học trò
không phải là người Trung Quốc. Trong suốt cuộc đời của mình, Lý Tiểu
Long luôn phải không ngừng chiến đấu.

Năm 1966, Lý Tiểu Long bắt đầu để ý đến Hollywood. Sau đó, anh có
cơ hội tham gia Green Hornet. Anh đóng trọn vẹn một mùa. Trong 2 mùa sau
đó, Lý Tiểu Long xuất hiện nhiều lần với vai trò là khách mời.

Năm 1969, Lý Tiểu Long có một vai diễn nhỏ trong bộ phim Marlowe.
Nhận thấy người Mỹ chưa sẵn sàng với một nam diễn viên người châu Á đảm
nhận vai chính nên anh quyết định trở lại Hong Kong và tham gia một loạt
bộ phim hành động từ năm 1971. Trong ảnh là Lý Tiểu Long trong phim
Game of Death năm 1978.

Năm 1972, Lý Tiểu Long tham gia Way of the Dragon. Bộ phim có một
cảnh đánh nhau khó quên giữa anh và Chuck Norris. Thời điểm đó, Chuck
Norris vẫn là một cái tên mới mẻ.

Năm 1973, Lý Tiểu Long có cơ hội tái xuất với Hollywood khi tham
gia Enter the Dragon. Đây là bộ phim do hãng Warner Brothers hợp tác sản
xuất cùng Golden Harvest của Hong Kong. Kinh phí làm phim là 850.000
USD và doanh thu là khoảng 90 triệu USD.

Những bước chân di chuyển như một vũ công ballet của Lý Tiểu Long trong bộ phim Enter the Dragon.

6 ngày trước khi Enter the Dragon ra rạp, Lý Tiểu Long qua đời vì
chứng phù não. Ngày 20/7/1973, khi đang ở nhà một nữ diễn viên người Đài
Loan, Lý Tiểu Long kêu đau đầu, anh uống thuốc giảm đau, chợp mắt và
rồi không bao giờ tỉnh dậy. Cái chết của Lý Tiểu Long được cho là do dị
ứng với thuốc giảm đau kết hợp với chấn thương não trước đó của anh.

Tin đồn xung quanh cái chết của Lý Tiểu Long vẫn không ngừng xuất
hiện. Một số người cho rằng anh bị hội Tam hoàng của Trung Quốc ám sát,
bị bỏ bùa mê và chết vì một kiểu sex "bí truyền" của người châu Á. 20
năm sau cái chết của Lý Tiểu Long, con trai anh là Brandon cũng qua đời
do một tai nạn khi đang đóng phim The Crow. Trong lúc thực hiện cảnh bắn
súng, một viên đạn trong khẩu 44 đã bắn trúng người Brandon (đáng lẽ
khẩu súng không có đạn). Khi đó, Brandon mới tròn 30 tuổi. Điều này càng
làm xuất hiện thêm nhiều tin đồn về gia đình Lý Tiểu Long.

Lý Tiểu Long và Triệt Quyền Đạo
Triệt quyền đạo là một môn võ thuật vừa mang tính kỹ xảo, vừa
mang tính võ thuật, lại gắn liền triết học với cuộc sống, đồng thời cũng
là võ học đưa đến mốc giới cao thông qua những cuộc đối đầu, đọ sức
quyết liệt.
Người sáng lập là Lý Tiểu Long với sự kết hợp các môn võ Trung Hoa (như
Vịnh Xuân Quyền) và các môn thể thao phương tây (như quyền anh, thể dục
thể hình,...) và quan trọng hơn bộ tấn và cách di chuyển của tiệt quyền
đạo được lấy từ môn đấu kiếm của phương tây.
Tên của môn võ này chữ Hán là 截拳道. Nếu dịch theo đúng nghĩa Hán Việt thì
phải đọc là Tiệt quyền đạo. "Tiệt" có nghĩa là "cắt đứt" hay "một
đoạn". Ý nghĩa này theo Lý Tiểu Long là vì môn võ khi đánh cắt đứt đường
quyền của đối thủ, trước khi đối thủ có thì giờ phản ứng. Tuy nhiên,
nhiều người dịch lầm là Triệt quyền đạo, với ý tưởng là "triệt tiêu"
địch thủ. Tên này nghe hay hơn nên trở nên phổ thông ở Việt Nam, mặc dù
không đúng ý nghĩa của người sáng lập là Lý Tiểu Long.

Chiến thuật Tầm kiều - Phá mã là một chiến thuật phổ biến trong tất cả
các hệ phái Nam Quyền từ Hồng Gia Quyền cho đến Bạch Mi Quyền, Vịnh Xuân
Quyền, Phật Gia Quyền, Chung Ngoại Châu Gia, Thái Gia Quyền. Triệt
Quyền Đạo (Jiequandao) của Lý Tiểu Long cũng phát triển trên nguyên lý
này thành 2 nguyên lý căn bản của Triệt Quyền Đạo
Triệt Đầu Quyền: Ngăn chặn đòn của đối phương ngay từ trong gốc trước
khi phóng ra đến mục tiêu trên người ta (nên mới gọi là Triệt Đầu Quyền,
Triệt có nghĩa là ngăn chặn khi quyền đối phương mới khởi phát).
Tiếp Vĩ Quyền: Đối phương vừa dứt đòn hết tầm ngay lập tức ta xuất thủ
tiếp quyền đối phương (nên mới gọi là Tiếp Vĩ , Vĩ là cái đuôi, ý nghĩa
là như vậy). Chữ Kiều có nghĩa là cây cầu, ở đây chỉ khoảng cách đo
lường giữa ta và đối phương.

Tuy nhiên có một đặc điểm trong kỹ thuật quyền pháp của Trung Hoa rằng
khái niệm Kiều có nghĩa là Điếu Kiều tức là cái cầu ở cửa thành ngày xưa
hạ xuống cho người ra vào, nên khi muốn tấn công đối phương nghĩa là
trước khi công thành ta phải phá cửa thành (Phá Kiều) rồi mới xông vào
thành, tức là đánh gẫy (triệt hạ) tay chân (quyền cước) đối phương trước
rồi mới công thành.
Xét cho cùng Triệt Quyền Đạo của Lý Tiểu Long không có gì quá mới mẻ mà
chỉ là sự phát triển trên cơ sở các nguyên lý quyền kỹ Nam phái , cụ thể
là Hồng Gia Quyền và Vịnh Xuân Quyền.
Nhưng sự sáng tạo của Lý Tiểu Long ở chỗ là huyền thoại võ thuật này đã
nhấn mạnh đến tính đơn giản, trực tiếp và phi cổ điển. Nghĩa là phải
chăng Lý Tiểu Long đã chối bỏ mọi hình thái quyền pháp Nam phái để tiến
đến nguyên lý vô chiêu thắng hữu chiêu?
Thật ra không phải như vậy.
Lý Tiểu Long muốn nói rằng mọi nguyên lý triết học Trung Hoa trong võ
thuật như Âm - Dương, Cương - Nhu, Hư - Thực, Động - Tĩnh và các hình
thái quyền pháp (tức là những Chiêu thức, Chiêu số ) chỉ là lột tả cái ý
niệm sống động nào đó của quyền thuật. Các ý niệm quyền thuật này thể
hiện ở ngay tên của các chiêu thức quyền pháp trong bài quyền theo cách
tư duy tượng hình (mô phỏng) có tính ví von và so sánh bằng hình ảnh của
người xưa.

Chẳng hạn ở tư thế Trung Bình Tấn (Hồng Gia Quyền Hồng Hy Quan gọi là Tứ
Bình Bát Phân) một tay quyền để ở hông còn tay kia xuất quyền đánh
thẳng ngang về phía một bên hông của tay đó có tên là Hoa Vinh Xạ Tiễn
ám chỉ động tác tay vung quyền tấn công tựa như dang cánh cung về một
bên, trong khi tay còn lại nằm ở hông giống như đang nắm mũi tên kéo về
sắp sửa bật dây cung bắn ra, còn Hoa Vinh là tên của một trong 108 anh
hùng Lương Sơn Bạc trong tiểu thuyết Thủy Hử của Thi Nại Am. Hoặc chiêu
thức Ngọa Hổ Tầm Dương (cọp nằm bắt dê) chẳng hạn. Còn nếu như hai tay
nắm thành quyền nằm ở hai bên hông thì gọi là Nhị Hổ Tiềm Tung (như hai
con cọp nằm hai bên cổng) hay Long Tàng Hổ Phục (rồng và cọp nằm hai bên
chờ thời xuất công)...
Do vậy Lý Tiểu Long đã đưa ra khái niệm Triết học vận động (Philosophy
in Motion) trong võ thuật có nghĩa là giữa các hình thái quyền pháp -
tức là các chiêu thức - luôn có sự biến hóa có thể không theo một trình
tự nhất định nào để trở thành một khuôn vàng thước ngọc mà tùy theo khả
năng ứng biến theo tình thế của người luyện tập và trong khi chiến đấu
ngoài đời thật sự. Đó là tư tưởng "Không câu chấp, không câu nệ và vạn
pháp hư không" trong thuyết lý Thiền Tông Phật Giáo Trung Hoa.
Và Lý Tiểu Long đã đi đến kết luận Học nguyên tắc rồi giải trừ nguyên
tắc, nghĩa là qua sông rồi thì nên để lại thuyền mới đi tiếp được, nếu
cứ câu nệ vào phương pháp tức là quá quan tâm đến hình thức mà không
hướng đến nội dung thì tâm pháp bị vướng bận, năng lực bị giam hãm và
không được giải phóng thì cho dù có tập luyện quyền thuật lâu ngày cũng
không có kết quả gì.
Như vậy người mới học quyền thuật rất cần các hình thái quyền pháp căn
bản, đến khi tinh luyện rồi thì thiên biến vạn hóa, từ chỗ có chiêu số
đi đến chỗ không có chiêu số nghĩa là Vô ảnh quyền, vô ảnh cước, mọi cử
động bất kỳ của thân thể cũng có thể trở thành chiêu thức (Techniques)
phòng thủ, tấn công hay phản công đối phương hữu hiệu.
Tóm lại, kỹ pháp Triệt Quyền Đạo là dùng bất cứ kỹ pháp nào có thể vận dụng, là cái vô hạn, linh hoạt.
Lý Tiểu Long và những ẩn số chưa được lý giải
Lý Tiểu Long - ngôi sao võ thuật nổi tiếng đã trở thành huyền
thoại trong tâm trí những người yêu mến phim võ thuật hành động trên
toàn thế giới. Anh không chỉ được biết đến như là một diễn viên mà còn
là một võ sư nổi tiếng, người hết lòng đưa nền võ học Trung Hoa đến gần
hơn với thế giới. Anh chính là biểu trưng cho nền võ học hiện đại.

Xung quanh con người nổi tiếng này, giới truyền thông và những người yêu
mến anh đã thêu dệt nên nhiều câu chuyện gây nhiều tranh cãi về cuộc
đời cũng như sự nghiệp lẫy lừng nhưng vẫn còn dang dở của anh. Điều đầu
tiên ai cũng biết, đó là Lý Tiểu Long trở thành anh hùng từ một người
bình thường. Anh là một võ thuật gia trước khi trở thành diễn viên nổi
tiếng. Có thể nói, Lý Tiểu Long đã chinh phục cả thế giới bằng quyền
cước. Tuy nhiên, nhiều người lại không hề hay biết ngay từ khi mới sinh
Lý Tiểu Long đã bị dị tật, hai chân dài ngắn khác nhau (chân trái ngắn
hơn chân phải), ngoài ra anh lại bị cận thị khá nặng.
Điều thứ hai là không ai thực sự nắm rõ về nguyên nhân cái chết của Lý
Tiểu Long. Một thông tin khiến cả thế giới kinh hoàng "Lý Tiểu Long đã
chết và được khiêng ra từ giường của người tình Đinh Phối.
Điều thứ ba đặt ra cho mọi người nhiều nghi vấn, đó là số mệnh Lý Quốc
Hào (con trai Lý Tiểu Long) cũng giống như cha mình. Đó là, hai mươi năm
sau cái chết của cha, Lý Quốc Hào cũng bị chết khi đang quay dở bộ phim
"Quạ đen". Trong phim, Lý Quốc Hào thể hiện vai một vong hồn chết không
cam lòng.
Cuộc đời thăng trầm của Lý Tiểu Long
Để lý giải từng điều thắc mắc, chúng ta hãy cùng tìm hiểu về tiểu sử của
chàng trai trẻ Lý Tiểu Long. Anh sinh ra trong một gia đình gốc Hoa
nhưng sinh sống tại Mỹ. Thực tế, khi sinh ra anh không được khỏe mạnh,
thể chất không được tốt, hình thể thấp bé nhưng đối với người học võ thì
anh hội tụ đủ những tố chất thiên bẩm mà triệu triệu người mới có một.
Sinh ra ở Mỹ nhưng đến năm 1 tuổi anh được đưa về sống ở Hồng Kông, vào
những thập niên 1940 - 1960, nơi đây chính là vùng đất phức tạp và dữ
dội của một trung tâm tài chính quốc tế. Ở đó tuổi thơ của anh là những
tháng ngày lêu lổng, trốn học, quậy phá, đánh nhau... và anh đã học được
cách làm "đại ca" thiên hạ.
Trong thời gian ở Hồng Kông, anh may mắn có được người thầy chân chính -
võ sư Diệp Vấn, một người sống thanh bạch, không bao giờ coi võ thuật
như món hàng mua bán, chính ông đã trở thành người thầy dạy Lý cả về võ
công lẫn đạo lý làm người. Cũng trong thời gian ở Hồng Kông, anh đã gặp
Amy Sanbo, người con gái anh yêu, người hết lòng thương yêu anh nhưng
không a dua theo những chiến tích có tính khoe mẽ của anh; mà còn nghiêm
khắc khuyên anh phải nhìn lại mình, và khi biết anh không thể làm được
điều đó, cô đã khước từ lời cầu hôn của anh.
Lý Tiểu Long có người bạn tri kỉ là Taky Kimura, đúng hơn là bậc thiền
sư, ngầm khai thị cho anh bài học biết kiềm chế mình, biết giấu mình,
biết coi thường thói hư danh, phù phiếm. Anh có người vợ biết chấp nhận
anh, yêu thương, chăm chút, thủy chung. Anh có những đệ tử giỏi giang và
hết lòng vì sư phụ. Anh có nhiều cơ hội, mà một trong những cơ hội đó
đã đưa anh lên hàng ngôi sao điện ảnh đắt giá nhất thế giới, và trong
vòng ba năm tiếng tăm anh lẫy lừng tới mức nhiều tài tử khác cả một đời ở
Hollywood vẫn không có được...
Vừa là một cao thủ quyền cước, vừa là một tài tử điện ảnh xuất sắc, đó
là hai yếu tố tạo nên huyền thoại Lý Tiểu Long. Chính võ thuật là bàn
đạp giúp anh đến với điện ảnh, mà đỉnh cao là bộ phim Đường Sơn đại
huynh - phá vỡ mọi kỷ lục trước đó của loại phim võ thuật, quyền cước.
Thành công đó dẫn tới các phim kế tiếp của anh là "Tinh Võ môn", "Mãnh
long quá giang", "Long tranh hổ đấu", "Tử vong du hí" (còn dở dang).
Dưới bàn tay của đạo diễn bậc thầy La Duy, "Đường Sơn đại huynh" đưa Lý
lên hàng "sao" và đã chinh phục được con tim, khối óc người xem. Thành
công quá sớm cộng với tính khí hung hăng, háo thắng, anh bắt đầu làm cho
các mối quan hệ trở nên căng thẳng.
Những người thân yêu quanh anh hiểu rõ điều này hơn ai hết. Linda Lee
nói về chồng mình: "Lý Tiểu Long có rất nhiều nhược điểm, chẳng hạn như
nóng nảy bất thường, thiếu tế nhị với người xung quanh, không ý tứ trong
mọi cách hành xử". Michael Lai (bạn anh) nói: "Nếu anh thua, bao giờ
anh cũng viện ra một cái cớ nào đó để bào chữa".
Trong những năm cuối đời, Lý Tiểu Long là hiện thân của sức mạnh, quyền
lực và giàu có, như kẻ sở hữu một bảo đao sáng ngời thay vì phải giấu nó
trong bao thì anh lại xách đi khơi khơi giữa thiên hạ...
Bí kíp luyện võ của Lý Tiểu Long
Nhiều người thắc mắc không biết công phu của Lý Tiểu Long bắt nguồn từ
đâu? Rõ ràng anh có ba năm học Vĩnh Xuân Quyền với võ sư Diệp Vấn. Sau
này anh có tập thêm karate, quyền anh, quyền Thái, nhưng chừng ấy vẫn
chưa thể gọi là đủ. Chính những tố chất thông minh, hiếu thắng, gan dạ, ý
chí sắt đá, đam mê khổ luyện, dày dạn trận mạc... mới tạo nên thần tượng
Lý Tiểu Long trong võ thuật, với quan điểm chiến đấu rất rõ ràng: vô
chiêu, tức thời, trực tiếp, đơn giản, hiệu quả. Đòn thế của anh không hề
rườm rà, bao giờ cũng dứt khoát, rõ ràng và thuyết phục. Anh đặt tên
cho nghệ thuật chiến đấu ấy là Triệt quyền đạo. Không lâu sau, Triệt
quyền đạo trở thành môn phái mà chính anh là người sáng lập.
Lý Tiểu Long đã tự biết tìm cho mình một lối đi riêng trong sự nghiệp võ
thuật và những bí kíp đó của anh sau này đã trở thành cẩm nang gối đầu
cho những môn sinh hậu thế. Tiểu Long coi trọng 3 yếu tố được anh xem là
điều cốt yếu nhất khi luyện võ.
Thứ nhất, về tâm: Trong một cuộc đấu, tâm quyết chí là người thắng trận;
khi gặp sóng gió, tâm luôn giữ bình thản. Lý có câu nói nổi tiếng: "Dầu
bạn muốn làm gì đi nữa cũng đừng mất bình tĩnh. Giữ tâm tịnh. Đánh giá
hoàn cảnh thực sự bạn đang phải đối phó và tìm cách chế ngự, không ảo
giác và không tưởng tượng. Không làm việc gì quá độ. Giữ xác và thần
thoải mái để đối phó hung hiểm bên ngoài".

Thứ hai, về cặp mắt: Trước và trong khi tranh hùng mắt cần phải nhận
định được càng nhiều biến động càng tốt. Cẩn thận để ý đến cùi chỏ và
đầu gối là điều cần thiết. Và không lúc nào võ sinh chớp mắt hoặc quay
đầu vì điều đó sẽ làm mất đi võ khí lợi hại nhất là sự quan sát tình
thế.
Thứ ba, về yếu tố thăng bằng: Điều này võ sinh cần luyện tập luôn luôn
để có thể phát huy tối đa sự uyển chuyển và vững chắc của bộ pháp. Cũng
có nghĩa là võ sinh phải khổ luyện để bộ cước không mất sức mạnh dưới áp
lực khi lâm trận.
Bên cạnh những bí quyết cơ bản đó Lý Tiểu Long còn có nhiều sáng kiến
khác. Vào thập niên 50, môn sinh võ thuật Trung Hoa rất tôn trọng truyền
thống. Họ tin rằng tập tạ sẽ làm chậm đi tốc độ của võ sĩ. Nhưng Lý tìm
ra cách khắc phục điều đó. Lý bắt đầu bằng cách tập tạ nặng và cử tạ
chậm trước tiên, rồi Lý giảm độ nặng của tạ nhưng tăng cường độ cử tạ.
Lý tiếp tục làm vậy cho đến khi cường độ cử tạ đến mức nhanh nhất và tốc
độ của việc tập cũng nhanh theo. Với phương cách này bắp thịt của Lý
phát triển và tăng sức mạnh mà không bị giảm tốc độ.
Có thể nói Vĩnh Xuân Quyền gắn liền với tên tuổi của Lý Tiểu Long và một
trong những khám phá quan trọng nhất của Lý khi tập Vĩnh Xuân Quyền là
Vĩnh Xuân Quyền dạy môn sinh sử dụng từng cơ bắp hoặc từng nhóm cơ bắp
trước, rồi kết hợp các nhóm cơ bắp tập trung thành một thế thức để đạt
được trình độ kỹ thuật và tốc độ cao nhất. Lý hoàn toàn thành công trong
việc này. Hai tay giơ một trước một sau cao ngang vai, tư thế trông rất
đơn giản nhưng lại rất tốt cho việc rèn luyện vài cơ bắp quan trọng của
tay. Cả hai tay đều giơ lên, cao nhưng không dựa vào thân nên rất mau
mệt, tuy nhiên thế võ này bắt buộc bộ óc phải luôn kiểm soát hai tay. Do
vậy, võ sinh sẽ có thể dùng cả hai tay độc lập với nhau cùng lúc. Anh
không đồng tình với việc tập đá bao cát vì Lý hiểu rằng kết quả của việc
tập sẽ làm bắp thịt chai cứng lên và làm tốc độ chậm đi.
Lý Huỳnh từng thách đấu Lý Tiểu Long
Nằm trong nhóm Tứ tú (bốn ngôi sao) trên bầu trời võ thuật miền
nam trước 1975, Lý Huỳnh từng "làm mưa làm gió" trên sàn đài quyền Anh
và võ tự do. Rời sàn đấu đã lâu, nhưng chỉ cần nhắc lại chuyện võ đài
năm xưa, con người ông dường như "sôi" lên, như đang sống lại những năm
tháng vinh quang nơi đấu trường.
Tay đấm một thời vang bóng
Cậu bé Lý Kim Tuyền chào đời tại tỉnh Vĩnh Long, vùng đất sông nước mênh
mông, chất chứa hào khí Nam bộ. Có cha là một võ sư nổi tiếng, lên sáu
tuổi cậu đã được dạy những miếng võ vỡ lòng. Thế rồi tình yêu và lòng
đam mê võ thuật không biết từ lúc nào "nhiễm" sâu vào trong máu. Năm 12
tuổi, cậu bái sư thầy Hai Yến, một võ sư nổi tiếng vùng Chợ Lớn, theo
học võ dân tộc, thời ấy hay gọi nôm na là võ ta. 3 năm miệt mài tập
luyện, cậu đã tiến một bước dài trên con đường võ học. Võ dân tộc có lối
công thủ kín kẽ, bộ ngựa (tấn) linh động nhưng câu thúc, gò bó.
Là người có tố chất mạnh mẽ, tinh thần phóng khoáng, cậu bé chưa bước
qua tuổi thiếu niên muốn tìm học một môn võ phù hợp với thể tạng của
mình hơn. Cơ may cậu được gặp võ sư Huỳnh Tiền, một tên tuổi lẫy lừng
trong làng đấm quyền Anh và quyền tự do. Tìm được đúng thầy và đúng môn
võ mình ưa thích, cậu hầu như có thể phát huy hết sở trường và biết hạn
chế sở đoản. Từ đây võ danh Lý Huỳnh bắt đầu tỏa sáng. Ông nhớ lại:
"Người thầy thứ ba tôi theo học là võ sư Thiếu Lâm người Trung Quốc tên
Huỳnh Đạt Vân. Ba người thầy với ba dòng võ đã hun đúc nên một "phong
cách" riêng của Lý Huỳnh. Tôi luôn biết ơn những người thầy đã hết lòng
chỉ dạy tôi từ những ngày chập chững vào nghề".
Năm 17 tuổi, Lý Huỳnh chính thức bước lên võ đài (1958). Trận so găng
đầu tiên ông đụng ngay với võ sĩ Léote Francoise, vô địch quyền Anh quân
đội Pháp. Đối diện với một võ sĩ dày dạn kinh nghiệm, phút đầu Lý Huỳnh
cũng hơi chợn. Nhưng sẵn có sức trẻ cộng với máu gan lỳ, qua hiệp đầu
ông đã hoàn toàn làm chủ trận đấu. Bằng cú nhứ đòn tay trái, đòn tay
phải đánh thẳng kèm theo động tác xoay hông và lắc vai, cú đấm có sức
công phá như quả tạc đạn. Trước lối công đòn dữ dội, đối thủ bị dồn về
phía dây đài và cuối cùng thúc thủ.
Đây có thể nói là một phần thưởng quá lớn cho một võ sĩ mới ra lò. Báo
chí thời ấy không tiếc lời ca ngợi và biệt danh "con báo đen" lan nhanh
trong làng võ. "Báo đen" Lý Huỳnh lần lượt đánh bại các đối thủ sừng sỏ
như Mạch Trung Phương (1964) từng vô địch miền Trung, Anh Thạch cựu vô
địch miền Bắc (vô Nam 1954). Thủ hòa với võ sĩ Văn Đại đương kim vô địch
quyền Anh... Ông đã có 12 trận thượng đài và thắng tuyệt đối, được xưng
tụng là võ sĩ "bách chiến, bách thắng". Tên tuổi của ông nổi danh đến độ
nhiều võ sĩ taekwondo mang đẳng cấp 1-2 đẳng xin thọ giáo. Có nhiều
người thành danh như võ sĩ Lý Huỳnh Yến, Lý Ngọc Long, Lý Xích Long, Lý
Tiểu Muội.

Lý Huỳnh (trái) so găng với võ sĩ Léote Francoise
Lời thách đấu gây chấn động võ lâm
Năm 1970, võ sư Hàn Anh Kiệt từng đóng vai đấu võ với Lý Tiểu Long trong
phim Đường Sơn Đại Huynh qua miền Nam đến một số võ đường tìm người
thích hợp để mời vào vai diễn võ thuật. Lý Huỳnh lúc ấy có tướng mạo khá
"ngầu", khi thi triển các đường quyền cước mạnh mẽ như cuồng phong lại
hết sức đẹp mắt. Thật không thể tìm ai hơn để vào vai trong phim Long Hổ
Sát Đấu. Đó là nhân vật Vũ Hùng, sư huynh của một võ phái, vì danh dự
phải chấp nhận đấu với các sĩ quan Nhật và phải thắng. Đạo diễn yêu cầu
Lý Huỳnh đá liên hoàn bát cước và ông thực hiện hết sức ngoạn mục.
Đoàn làm phim vỗ tay rào rào, và trước đông đảo giới báo chí, ông Hàn
Anh Kiệt hỏi thẳng: Nếu gặp nhau ngoài đời anh có dám đấu với Lý Tiểu
Long không? Lý Huỳnh đang ở độ tuổi sung mãn, được mệnh danh là tay đấm
bất khả chiến bại, nên cũng không khách sáo: "Tôi sẵn sàng thách đấu với
Lý Tiểu Long". Báo chí miền Nam và Hồng Kông đồng loạt giật tít ngay
trang nhất làm giới võ lâm như lên cơn sốt.
Mọi người chờ đợi một cuộc thư hùng giữa hai cao thủ cùng mang họ Lý,
đại diện cho hai nền võ thuật để phân tài cao hạ. Nhưng điều mong muốn
ấy đã không bao giờ xảy ra!
Lời thách đấu ấy có phải là bốc đồng hay như ngày nay người ta vẫn gọi
là một chiêu PR để đánh bóng tên tuổi hay không? Hoàn toàn không. Võ sư
Lý Huỳnh ngày nay sắp bước vào tuổi thất thập nhưng vẫn còn phong độ
lắm. Ông vừa hoàn thành bộ phim tâm huyết Tây Sơn Hào Kiệt, đang làm hậu
kỳ và phát hành vào dịp 30.4.2010. Là con nhà võ, ông không câu nệ và
sẵn sàng biểu diễn đấu pháp để minh họa cho lý lẽ của mình. Lý Huỳnh
phân tích: "Có thể nói Lý Tiểu Long là một thiên tài võ thuật của điện
ảnh, có lồng ghép võ công thật và biểu diễn cùng kỹ xảo.
Còn tôi là một con nhà võ đã qua thử lửa đến độ không còn biết sợ trước
bất cứ đối thủ nào. Thử tưởng tượng khi còn trẻ tôi có thể đấu liên tục
15 hiệp, mỗi ngày đều tập dợt bao cát, chạy bộ và tập đối luyện, sức
chịu đựng thật kinh khủng. Nói thật muốn đánh bại tôi không dễ chút
nào". Nếu Lý Tiểu Long có bước chân nhún nhảy theo đấu pháp quyền Anh,
bộ tay Vịnh Xuân và đòn cước karate, thì ngược lại Lý Huỳnh có đòn tay
quyền Anh, đòn đá taekwondo, chỏ gối của võ tự do và bộ pháp di chuyển
theo Thiếu Lâm nam phái. Điểm yếu của Lý Tiểu Long theo Lý Huỳnh phân
tích là có gương mặt hẹp, quai hàm yếu. Đây là điều tối kỵ khi gặp các
tay đấm "bốc", vì chỉ với một cú móc có thể bị gãy quai hàm và dễ
knock-out. Với mặt mạnh và yếu của mỗi bên, nếu thật sự so tài thì thật
là "bên tám lạng, người nửa cân" chưa biết ai thắng ai!
Chính những tiềm năng võ học vốn có trong con người cộng với lòng đam mê
nghiên cứu sáng tạo các phương thức mới trong luyện tập đã làm cho Lý
Tiểu Long từ một cậu bé ốm yếu trở thành một võ sư đại tài và chính
những thế võ lừng danh đó đã được anh đưa vào phim ảnh để làm nên một
hình tượng Lý Tiểu Long bất khả chiến bại.
Linh hồn của Triệt Quyền Đạo chính là sự thành thục hoàn hảo đối với kỹ
thuật, nó phải được nuôn dưỡng, hình thành từ những linh cảm được tỏa
sãng trong tâm linh, biến những kỹ pháp thành năng lực đặc hữu của riêng
mình, cộng thêm sự tôi luyện lâu dài đối với trực giác, cuối cùng có
thể đạt đến mức hoàn hảo có thể dựa vào phản ứng bản thân và cảm nhận
trực giác để có thể vận dụng nhanh chóng và tự động hóa bất kỳ kỹ pháp
nào của bản thân để ứng phó với mọi biến hóa của ngoại cảnh. ( Triệt
Quyền Đạo mang tính thời đại cao đi thẳng vào bản chất vt, giúp võ sinh
thực chiến, rèn luyện toàn diện một cách nhanh chóng, thể hiện sự tự do
chính bản thân mình, không cầu kỹ như võ thuật truyền thống ( học võ
thuật truyền thống không đúng thầy đúng thợ thì chỉ được mỗi cái sức
khỏe mà thôi ).
Sau khi Lý Tiểu Long qua đời, hãng Golden Harvest quyết định hoàn
thành bộ phim dang dở mà Lý Tiểu Long phải tạm ngưng để tham gia Enter
the Dragon. Bộ phim đó có tên Game of Death và ra mắt vào năm 1978. Để
lấp khoảng trống mà Lý Tiểu Long để lại, trong một cảnh phim, đoàn làm
phim đã sử dụng "tiểu xảo" như dùng ảnh khuôn mặt có kích thước như thật
của Lý Tiểu Long để phản chiếu trong gương. Tuy nhiên, không xử lý cẩn
thận, khi chiếu phim, lỗi này đã bị phát hiện.
|